Chín giờ sáng một ngày cuối năm, phòng họp của một công ty làm máy sấy nông sản ở vùng ven một tỉnh Tây Nguyên có tám người ngồi quanh cái bàn dài. Công ty này lâu nay sống bằng mấy dòng máy sấy cà phê và hồ tiêu cho các hộ và hợp tác xã trong vùng, làm chắc tay, bán đều. Hôm ấy hội đồng sản phẩm họp để chốt một dòng máy mới: máy sấy trái cây mini cho hộ gia đình, cỡ nhỏ, để trong bếp cũng được. Người trình bày là anh Tú bên kinh doanh, nói hăng, rằng dạo này đi đâu cũng nghe người ta hỏi máy sấy hoa quả làm mứt, làm đồ ăn vặt, thị trường đang lên, nhà mình có sẵn nghề sấy thì tội gì không làm.
Chủ trì hội đồng hôm ấy là anh Lâm, phó tổng phụ trách sản phẩm. Chúng tôi xin phép đổi tên anh, như mọi nhân vật trong kênh này. Anh nghe anh Tú trình bày, thấy hợp lý, thấy đúng là nhà mình có nghề sấy thật, thấy mấy con số nhu cầu nghe cũng xuôi tai. Cả phòng gật. Biên bản ghi gọn một dòng: thống nhất mở dòng máy sấy trái cây mini. Không ai hỏi thêm gì. Cuộc họp chốt trong nửa tiếng, ai cũng thấy nhẹ nhõm vì lại xong một việc.
Gần một năm sau, cái nhẹ nhõm nửa tiếng ấy hiện ra cái giá của nó. Máy làm ra rồi, chạy tốt, sấy hoa quả thơm ngon thật. Nhưng bán thì ì ạch. Hộ gia đình mua máy sấy trái cây mini không phải là khách quen của công ty, họ không biết đến cái tên này, mà công ty cũng không có kênh nào chạm tới họ, bao lâu nay chỉ quen bán cho hợp tác xã và đại lý vật tư nông nghiệp. Cái nghề sấy thì đúng là có, nhưng bán một cái máy công nghiệp cho hợp tác xã và bán một món đồ gia dụng cho bà nội trợ là hai nghề bán hàng khác hẳn nhau. Máy nằm kho. Vốn chôn ở đó gần một năm. Và điều làm anh Lâm khó chịu nhất không phải là lỗ, mà là khi ngồi mổ xẻ, không ai trong phòng nhớ chính xác hôm ấy mình đã gật vì cái gì. Vì thị trường lên? Lên bao nhiêu, ai đo? Vì nhà mình có nghề? Nghề sấy hay nghề bán? Câu trả lời thật thà là hôm ấy cả phòng gật vì nghe xuôi tai, và vì anh Tú nói hăng.
Anh Lâm ngồi nghĩ mất mấy hôm. Anh nhận ra cái công ty này thiếu không phải là người giỏi, cũng không phải là ý tưởng. Mấy dòng máy chính vẫn chạy tốt, người vẫn làm được việc. Cái thiếu nằm ở chỗ khác: mỗi lần quyết có làm một dự án hay không, mỗi người trong phòng cân bằng một thứ khác nhau trong đầu, người cân bằng cái nghề sẵn có, người cân bằng cái trend đang nổi, người cân bằng cái đơn hàng thử vừa có, và không ai nói ra mình đang cân bằng cái gì. Quyết xong thì cái lý do ấy bốc hơi, không ai ghi lại, nên lần sau gặp bài tương tự lại mò từ đầu.
Lần họp hội đồng kế tiếp, anh Lâm làm một việc nhỏ đến mức mấy người trong phòng ban đầu tưởng anh đùa. Anh mang tới một tờ giấy in, ép plastic cho khỏi nhàu, đặt ngay giữa bàn họp, chỗ ai ngồi đâu cũng nhìn thấy. Trên tờ giấy chỉ có ba câu hỏi, đánh số một hai ba, chữ to. Câu một: dòng sản phẩm này đáng làm cho ai, và vì sao người ta chọn mình chứ không chọn cái đang có sẵn ngoài kia. Câu hai: nó có hợp cái nghề và cái trục mình đang đi không, mình mạnh hơn ở đâu, mà cái mạnh ấy là nghề làm ra hàng hay nghề bán được hàng. Câu ba: có đúng là lúc này không, vì sao là bây giờ chứ không phải năm sau hay năm ngoái. Dưới ba câu, chừa một dòng trống, in nhạt mấy chữ: lý do đã quyết.
Luật của anh Lâm gọn: chưa trả lời xong ba câu ấy trên bàn thì chưa ai được biểu quyết. Và trả lời không phải là gật cho qua, mỗi câu phải nói ra thành lời, có thì nói có và nói vì sao, chưa rõ thì ghi là chưa rõ và hẹn buổi sau mang câu trả lời tới, chứ không được tự nhủ chắc là được rồi. Khi cả ba câu đều có câu trả lời đứng được, người chủ trì viết vào dòng trống ấy đúng một câu, ghi lại vì sao lần này gật, hoặc vì sao lần này thôi. Một dòng, không hơn. Rồi tờ giấy được chụp lại, lưu vào hồ sơ dự án.
Mấy buổi đầu, phòng họp dài ra chứ không ngắn đi, vì ba câu hỏi ấy lôi ra những chỗ trước nay không ai chịu nhìn. Có dự án nghe rất kêu lúc trình, đến câu hai thì tắc, vì hoá ra cái mình mạnh không phải cái khách cần. Có dự án đến câu ba mới lộ là làm sớm quá, thị trường chưa tới. Nhưng qua vài tháng, cái phòng họp ấy lại nhanh hẳn lên. Người trình bày biết trước sẽ bị hỏi ba câu đó nên chuẩn bị sẵn, không còn ai lên trình chỉ bằng một câu thị trường đang lên nữa. Quyết nhanh hơn, mà nhẹ đầu hơn, vì ai ra khỏi phòng cũng biết rõ mình vừa gật vì cái gì.
Cái lợi lớn nhất lại đến muộn hơn, và đến từ cái dòng chữ nhỏ nhất trên tờ giấy. Nửa năm sau, có hai dự án mới đưa lên hội đồng, cùng một kiểu bài với dòng máy sấy trái cây năm trước: một món đồ nhắm tới nhóm khách công ty chưa từng bán tới. Lần này, thay vì lại tranh luận từ đầu, anh Lâm mở hồ sơ cũ, lôi ra dòng lý do đã ghi năm ngoái, đọc to lên giữa phòng. Cả phòng nhớ lại ngay vì sao lần trước sa lầy, không phải vì máy dở, mà vì bán cho người lạ bằng một cái nghề bán mình chưa có. Một dự án nhờ đó được gạt sớm trước khi tốn tiền. Dự án kia được giữ lại, nhưng đổi cách làm, đi qua kênh phân phối của một đối tác đã sẵn khách, đúng vào chỗ năm ngoái công ty vấp. Dòng chữ một câu ấy tiết kiệm cho công ty cả một mùa mò mẫm.
Từ dạo đó, tờ giấy ba câu hỏi ép plastic thành một vật cố định trên bàn họp hội đồng, sờn mép vì bị lôi ra lôi vào. Có người mới vào công ty tưởng nó là thủ tục hình thức, nhưng ngồi họp vài lần thì hiểu nó không quyết thay ai cả, người vẫn là người quyết. Nó chỉ làm đúng hai việc: bắt cái lý do giấu trong bụng mỗi người phải nói ra thành lời trước khi bấm nút, và giữ lại cái lý do ấy trên giấy cho lần sau khỏi quên. Anh Lâm bảo trước đây công ty quyết bằng cảm giác rồi để cảm giác bay đi, giờ công ty quyết bằng ba câu hỏi rồi giữ lại câu trả lời, và chỉ nhiêu đó thôi mà mỗi lần gật một dự án anh thấy nhẹ người hẳn.
Chuyện này không riêng của mấy cái máy sấy. Ở đâu có một phòng họp phải chốt nên làm hay không nên làm một việc tốn người tốn của, ở đó có những cái lý do giấu trong bụng, quyết xong là bay mất. Câu chuyện của anh Lâm dừng ở đây. Còn một câu hỏi xin gửi lại anh chị, cho cuộc họp gần nhất mà anh chị vừa gật hay vừa gạt một dự án: trước khi gật, công ty mình đã có một bộ câu hỏi chung để ai cũng đứng trên cùng một thước chưa, hay mỗi lần lại quyết theo một cách, rồi để cái lý do bay đi ngay khi bước ra khỏi cửa phòng?